Mỗi năm có một tổ hợp can-chi riêng. Bảng này chấm điểm xem năm đó hành nào vượng, hành nào suy — nền để luận hạn lưu niên bát tự.
Điểm ngũ hành ở trên là của năm — ai cũng như ai. Chọn nhật chủ (Can ngày sinh trong bát tự) thì 5 hành đó hiện nguyên vai Thập Thần của riêng bạn: chủ đề nào nổi lên, chủ đề nào lắng xuống — tức năm đó chuyện gì sẽ tới.
Chưa biết nhật chủ của mình? Lập lá số miễn phí → (bát tự hiện trong phần kết quả)
1. Thiên can — tính thẳng ngũ hành: can thuộc hành nào thì cộng thẳng
6 điểm cho hành đó (Giáp Ất = Mộc, Bính Đinh = Hỏa, Mậu Kỷ = Thổ,
Canh Tân = Kim, Nhâm Quý = Thủy).
2. Địa chi — qua vòng trường sinh: lấy đủ 5 hành, xét từng hành
đang đứng ở trạng thái nào khi gặp chi đó, rồi quy ra điểm. Một địa chi chấm
điểm cho cả năm hành cùng lúc, không chỉ hành của riêng nó.
3. Cộng lại ra tổng điểm từng hành trong năm.
Lên dần từ Trường sinh, đỉnh ở Đế vượng, đáy ở Tuyệt, rồi nhen lại qua Thai — Dưỡng. Mộ được cao hơn Tử vì Mộ là cất giữ, còn gốc để dùng về sau.
Năm là nền, mỗi tháng làm lệch nền đó lên hoặc xuống. Can tháng vượng hành nào thì cộng, còn hành nào rơi vào chặng suy của vòng trường sinh thì trừ — nhờ vậy mới thấy nhịp lên xuống trong năm thay vì một con số phẳng. Tháng ở đây là tháng tiết khí (tháng 1 khởi Lập Xuân), không phải tháng dương lịch.
Số âm nghĩa là hành đó bị rút mạnh trong tháng — không phải điềm xấu, chỉ là chủ đề ấy lắng hẳn xuống trong tháng đó.
Xem từng năm rời thì không thấy chu kỳ. Nạp âm đi theo cặp — hai năm liền dùng chung một nạp âm — nên giai đoạn một hành nhen nhóm vốn đã kéo dài hai năm. Nối liền nhiều năm mới lộ ra đoạn ủ, đoạn bùng, đoạn tắt. Các tháng nối thẳng được vì năm bát tự chạy từ Lập Xuân tới Lập Xuân, không hở.
Ô xanh là nơi hành đó vượng nhất. Lưu ý: Thổ đồng cung với Hỏa — cùng khởi Trường sinh tại Dần, cùng Đế vượng tại Ngọ.
Giáp Tý → Quý Hợi. Cột năm là năm dương lịch gần nhất ứng với hoa giáp đó.